chăm sóc bà bầu| chăm sóc sau sinh|

Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1

Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1

                                                           Hoàng Thị Hương

                                          Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo Lang Chánh

PHẦN I: ĐẶT VẤN Đề

Lang Chánh là một trong những huyện miền núi cao, biên giới của tỉnh Thanh Hóa, giao thông đi lại khó khăn, đời sống của nhân dân - nhất là các xã vùng sâu, vùng xa - còn nghèo nàn; phong tục, tập quán còn nặng nề, lạc hậu. 

 Với 15 trường Tiểu học, 220 lớp, 3798 học sinh toàn huyện trong đó lớp 1 là 46 lớp và 756 học sinh, đa số là học sinh dân tộc thiểu số cho nên việc dạy và học Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 để đạt được chuẩn kiến thức và kỹ năng là một việc làm hết sức khó khăn cho các nhà trường Tiểu học trong địa bàn huyện bởi vì: Vốn Tiếng Việt của các em có rất ít bởi vì trước khi đến trường các em chưa được làm quen với Tiếng Việt, giao tiếp với bố mẹ, cộng đồng bằng tiếng mẹ đẻ của học sinh, môi trường giao tiếp của các em hết sức hạn hẹp. ở trường, khi học trên lớp, các em chủ yếu được nghe cô giáo giảng bài, những tuần đầu của năm học, giáo viên thường phải dùng cả hai thứ tiếng: Tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của các em để các em hiểu được bài học; học sinh được luyện đọc nhưng để hiểu được nội dung của bài học là một điều hết sức khó khăn với các em, học sinh được luyện viết nhưng kỹ năng để viết đúng các con chữ cũng là một điều hết sức nan giải. Về với gia đình, các em lại sống trong môi trường thuần tiếng dân tộc, vốn tiếng Việt ở trên lớp mà các em có được, những con chữ đầu tiên lại bị lãng quên trong tiềm thức của các em. Môi trường giao tiếp bằng tiếng Việt hạn hẹp và không thuần nhất như vậy chính là nguyên nhân dẫn đến việc hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Việt của các em hết sức khó khăn.

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1” ở huyện Miền núi Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa nhằm từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở Miền núi.

PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I. Cơ sở lý luận của đề tài.

Tiếng Việt là môn học có vai trò đặc biệt quan trọng ở bậc Tiểu học, là phương tiện chủ yếu để học sinh tiếp thu kiến thức của các môn học khác. Môn Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiệm vụ hình thành năng lực ngôn ngữ cho học sinh thể hiện ở bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Do đó, môn Tiếng Việt có một vị trí rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học, nhất là học sinh lớp 1.

Môn Tiếng Việt là một công cụ hữu hiệu trong hoạt động và giao tiếp của học sinh, giúp học sinh tự tin và chủ động hoà nhập các hoạt động học tập trong trường học, giúp học sinh hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản ở Tiểu học, đồng thời nó chi phối kết quả học tập của các môn học khác. 

 II. Thực trạng trường, lớp, giáo viên và học sinh tiểu học của huyện Lang Chánh năm học 2011 - 2012.

- Tổng số trường: 15.  Số lớp: 220. Số học sinh: 3798 em.

- Tổng số giáo viên toàn huyện: 314.

* Thuận lợi.

Tỷ lệ học sinh trên lớp ở các nhà trường thấp vì thế việc giáo viên quan tâm tới từng học sinh có rất nhiều thuận lợi. 

Đội ngũ giáo viên đủ và thừa về số lượng; 100% giáo viên được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn; đa số các giáo viên đều nhiệt tình, năng động, bám trường, bám lớp, có tinh thần trách nhiệm cao.

* Khó khăn.

Do địa bàn dân cư thưa thớt, không tập trung, đa số các trường trên địa bàn huyện đều có khu lẻ, có những trường có các khu lẻ cách điểm trường chính từ 8 đến 10 km như khu Nà Đang của trường Tiểu học Lâm Phú, khu Peo của trường Tiểu học Yên Thắng 2,... giao thông đi lại khó khăn dẫn đến việc kiểm tra thường xuyên cũng như đột xuất của Ban giám hiệu nhà trường còn bị hạn chế, vẫn còn phải ghép lớp ở một số khu lẻ trong các nhà trường.

Mặt khác, giáo viên người dân tộc của các trường vùng cao chiếm tỷ lệ cao (74,2%), trình độ đào tạo không đồng đều do đó việc nắm bắt nội dung chương trình, sách giáo khoa còn chậm, việc tiếp cận và đổi mới phương pháp dạy học còn nhiều hạn chế. Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của ĐDDH.

Số lượng từ của các học sinh (đặc biệt là học sinh ở các trường Tiểu học Lâm Phú, Yên Khương 1, Yên Khương 2, Yên Thắng 1, Yên Thắng 2) sử dụng được trong giao tiếp không nhiều, học sinh chỉ nói được những từ, câu rất đơn giản như: Thầy giáo, cô giáo, bạn,… hay các sự vật gần gũi như: Quyển vở, bút chì, cái bảng,... Có thể nói số lượng từ mà các em sử dụng được chỉ tương đương với một trẻ em 2 hoặc 3 tuổi ở Miền xuôi. 

 Khả năng chú ý và tập trung vào bài học của học sinh không bền.

 Học sinh đi học thất thường, có em đi học trong một tuần chỉ được 2- 3 buổi.

Từ thực trạng nêu trên ở địa phương, trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng và từ đó đề xuất ý tưởng chỉ đạo việc dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 của huyện miền núi Lang Chánh - đặc biệt là học sinh lớp 1 vùng dân tộc thiểu số - trong những năm học qua, tôi đã áp dụng thành công một số giải pháp sau để chỉ đạo việc dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 trong toàn huyện:

III. Các giải pháp để thực hiện.

1. Một số giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở huyện Miền núi Lang Chánh.

1.1. Phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường Mầm non huy động tối đa trẻ 4 - 5 tuổi ra học lớp Mẫu giáo. Làm tốt công tác Phổ cập giáo dục trẻ 5 tuổi ở bậc học Mầm non. Thực hiện tốt chương trình giáo dục Mầm non mới đối với bậc học Mầm non trong toàn huyện.

1.2. Bố trí những giáo viên nhiệt tình, có trình độ chuyên môn và trách nhiệm cao, là người địa phương hoặc thông thạo tiếng địa phương làm công tác chủ nhiệm lớp 1. 

1.3. Chỉ đạo giáo viên dạy học theo hướng phân hoá các đối tượng học sinh, bám sát đối tượng, phù hợp và phát huy được tính tích cực của nhiều đối tượng học sinh trong cùng một lớp học. 

1.3. Chỉ đạo tốt việc dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng, lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh, phù hợp với địa phương, dạy học tới từng học sinh; tăng cường việc chấm, chữa bài tay đôi giữa giáo viên và học sinh, chỉ ra những lỗi sai của học sinh để giúp các em tự sửa những lỗi của mình; kịp thời động viên, khích lệ những cố gắng của học sinh.   

Khuyến khích giáo viên tăng cường làm đồ dùng dạy học và sử dụng đồ dùng tự làm, các loại đồ dùng có sẵn ở địa phương, đồ dùng dạy học được cấp phát một cách hợp lý, phù hợp với học sinh để tạo hứng thú trong học tập của học sinh, làm cho học sinh nhận thấy học tiếng Việt là có ích và thực sự cần thiết, tạo niềm đam mê trong học tập của các em, tạo môi trường thân thiện để các em tham gia, tạo động cơ “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” đối với học sinh để từng bước nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học.

Tăng cường công tác dự giờ đồng nghiệp trong trường và các trường bạn.

1.4. Xây dựng đội ngũ giáo viên cốt cán huyện làm công tác hỗ trợ về chuyên môn cho các trường vùng cao.

1.5. Thực hiện dạy học Tiếng Việt lớp 1 cho học sinh dân tộc thiểu số theo hướng điều chỉnh kế hoạch dạy học từ 350 tiết/năm lên thành 500 tiết/năm (phương án tăng thời lượng Tiếng Việt). Chỉ đạo các nhà trường dạy học trước khai giảng hoặc kéo dài thêm năm học; điều chỉnh thời gian dạy học của các môn học khác để tăng thêm thời gian cho môn Tiếng Việt.

1.6.Tăng cường tổ chức giao lưu về chuyên môn giữa các nhà trường, các cụm trường.

1.7. Tăng cường tích hợp dạy Tiếng Việt trong các môn học, các hoạt động giáo dục. Vận dụng các phương pháp dạy học Tiếng Việt với tư cách dạy học ngôn ngữ thứ hai; tăng thời gian luyện nói cho học sinh. 

 1.8. Tăng cường sự phối hợp với chính quyền địa phương, phụ huynh học sinh trong việc huy động học sinh ra lớp và xây dựng cơ sở vật chất cho các trường. 

1.10. Phối hợp với đội thanh niên tình nguyện; Đoàn thanh niên tại các địa phương để giúp đỡ các nhà trường trong việc xây dựng hàng rào cho các điểm trường, san ủi sân trường, trồng cây xanh, làm cầu qua suối cho học sinh đi học; tăng cường công tác sinh hoạt Đội - Sao để học sinh được tham gia các hoạt động tập thể từ đó giúp các em tự tin, mạnh dạn hơn trong giao tiếp.

1.11. Phòng Giáo dục và Đào tạo cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả và động viên, khuyến khích kịp thời công tác quản lý, sự tiến bộ của học sinh lớp 1 về đọc đúng, viết đẹp của các nhà trường.

2. Những giải pháp cụ thể cho từng phân môn:

2.1. Phân môn Học vần: Là phân môn chiếm nhiều thời lượng nhất của môn Tiếng Việt. Nếu học sinh không thuộc được các chữ cái, biết ghép các vần thì học sinh không thể đọc, viết cũng như học các môn học khác được. Vì vậy trong công tác chỉ đạo, chúng tôi đưa ra một số giải pháp sau:

a) Nhà trường và giáo viên chủ nhiệm lớp tạo mọi điều kiện về thời gian và tài liệu, thiết bị dạy học để học sinh được thực hành các kỹ năng đọc, viết, nghe, nói và phát triển nhiều nhất hai kỹ năng đọc, viết.

Tăng thời lượng dạy học phân môn Học vần từ 2 tiết lên 3 tiết ở các trường vùng sâu, vùng xa. Sử dụng nhiều hình thức dạy học sinh động để tạo hứng thú cho học sinh trước khi bước vào bài học mới: Hội thoại tự nhiên giữa giáo viên và học sinh; vào bài bằng một bài hát, một câu chuyện nhỏ, một câu đố vui, tổ chức nhiều trò chơi học tập cho học sinh tham gia,… 

 Sử dụng triệt để các đồ dùng được cấp phát trong dạy học, giáo viên tăng cường làm và sưu tầm các đồ dùng dạy học đơn giản, có sẵn ở địa phương.

Các trường tham gia chương trình SEQAP, thực hiện dạy học theo tài liệu Bài tập củng cố kiến thức và kỹ năng môn Tiếng Việt lớp 1. 

b) Rèn cho học sinh đọc đúng, viết đúng các âm, vần, tiếng dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âm địa phương: Phụ âm đầu: b/v; đ/l; dấu thanh: hỏi/nặng; ngã/sắc... Ví dụ: Cho các em đọc liên tục các câu đơn giản: Bố bế bé, bé vẽ bò bê,… 

c) Tăng cường sử dụng các đồ dùng trực quan sinh động, các hình thức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. Ví dụ: Khi dạy vần ai, ay giáo viên có thể tổ chức trò chơi “Em là họa sỹ”: 

- Em hãy tô màu xanh vào những đám mây có chứa vần ai.

- Em hãy tô màu hồng vào những đám mây có chứa vần ay.

Chắc chắn với vai trò của “một họa sỹ tí hon” các em sẽ vô cùng say sưa với các tác phẩm nghệ thuật của mình mà không hề cảm thấy mệt mỏi và căng thẳng. Tuy nhiên giáo viên cần phải thay đổi thường xuyên những hình ảnh minh họa để giúp học sinh khỏi bị nhàm chán.

d) Không giải nghĩa từ bằng duy danh định nghĩa, từ điển mà nên giải nghĩa từ bằng các hình ảnh trực quan, các vật thật hoặc đưa các từ vào trong văn cảnh cụ thể để học sinh hiểu được nghĩa của từ. 

đ) Sử dụng ngữ liệu chứa nội dung hấp dẫn, sưu tầm các câu đồng giao, thơ để giúp học sinh dễ thuộc, viết đúng các chữ cái. Ví dụ:

- i, t hai chữ giống nhau

i ngắn có dấu, t dài có ngang.

Hoặc sử dụng một số câu đố vui để giới thiệu một số âm, vần thay cho việc yêu cầu học sinh quan sát tranh để tạo hứng thú trong học tập cho học sinh. Ví dụ:

     - Nét tròn em đọc chữ o

    Khuyết đi một nửa sẽ cho chữ gì?      (Chữ c)

Giáo viên cùng học sinh tham gia đố vui rồi dẫn học sinh vào bài học một cách nhẹ nhàng:

GV: Đố các con đây là con gì?

Mắt màu hồng, thích rau xanh

Đôi tai dài thượt, chẳng nhanh hơn Rùa.

(Con Thỏ - Dạy bài 15: t, th, tổ, thỏ)

e) Hạn chế tối đa sử dụng tiếng địa phương trong dạy học. Chỉ sử dụng khi thật sự cần thiết với học sinh lớp 1 các trường vùng cao, vùng sâu.

2.2. Phân môn Tập đọc.

a) Kết hợp nhiều hình thức, biện pháp tổ chức dạy đọc thích hợp để huy động được nhiều học sinh đọc. Một trong những hình thưc tối ưu đó là chia nhóm, đọc nối tiếp. 

b) Chú ý cho học sinh luyện đọc nhiều và sửa sai kịp thời cho học sinh những phương ngữ địa phương.

c) Thực hiện quy trình dạy tập đọc linh hoạt phù hợp với từng thể loại văn bản và với từng giai đoạn học tập của học sinh.

d) Tăng thời lượng dạy học từ 2 tiết lên 3 tiết đối với các trường vùng cao.

2.3. Dạy phân môn kể chuyện

Được nghe kể chuyện là một nhu cầu tâm lý của học sinh lớp 1, đồng thời cũng là một yêu cầu của chương trình giảng dạy. Để tạo hứng thú cho học sinh trong giờ kể chuyện và nâng cao hiệu quả giờ dạy, giáo viên cần sử dụng một số giải pháp sau:

a) Giáo viên chú ý rèn luyện giọng kể của mình, làm cho học sinh hứng thú khi nghe kể chuyện, coi trọng các thủ pháp mở đầu câu chuyện, thêm tình tiết cho văn bản truyện.

b) Sử dụng linh hoạt các biện pháp dạy học thích hợp: Làm mẫu, dẫn dắt, gợi mở bằng câu hỏi hoặc tranh ảnh nhằm khích lệ học sinh mạnh dạn, tự tin, tích cực tham gia vào các hoạt động rèn kỹ năng nói của mình.

c) Hướng dẫn học sinh kể bằng lời của mình, không đọc thuộc lòng nguyên xi câu chuyện.

d) Tổ chức tốt các hình thức luyện tập, gây hứng thú đối với học sinh (phân vai, hoạt cảnh, đóng kịch...); chú ý tạo mọi cơ hội cho học sinh được thực hiện luyện tập kể chuyện trên lớp, trong nhóm, tổ hoặc theo cặp.

đ) Một số yêu cầu khó có thể được điều chỉnh, thay đổi cho phù hợp với trình độ học sinh.

e) Giáo viên cần tế nhị hướng dẫn học sinh kể chuyện. 

2.4. Phân môn Tập viết

a) Giáo viên viết chữ mẫu đúng và đẹp từng kiểu chữ, mẫu chữ.

b) Dạy học sinh viết đúng các nét chữ cơ bản như nét gạch ngang, nét xiên phải, cong tròn,... Dạy viết theo nhóm các chữ có nét cơ bản giống nhau.

c) Hướng dẫn học sinh thực hành luyện tập với số chữ, số dòng theo trình độ học sinh: Giáo viên hướng dẫn học sinh cụ thể về các yêu cầu kỹ thuật viết từng nét chữ, điểm đặt bút, điểm dừng bút trên dòng kẻ ly để hình thành nên một chữ cái, rồi đến tiếng, từ, cụm từ và cả câu. Đối với học sinh lớp 1 vùng cao giáo viên cần viết lại chữ mẫu nhiều lần để học sinh bắt chước viết theo.

d) Sử dụng có hiệu quả các phương tiện, thiết bị hỗ trợ dạy học Tập viết: Bảng cài, bảng lớp, bảng con...; Rèn tư thế ngồi viết đúng cho học sinh.

2.5. Phân môn Chính tả.

a) Giáo viên chuẩn bị và hướng dẫn học sinh chuẩn bị tốt các phương tiện viết bài chính tả (vở, bút, bảng lớp, bảng phụ).

b) Giáo viên chú ý cách đọc: Đọc to, rõ ràng, điều chỉnh tốc độ đọc cho phù hợp với trình độ học sinh.

c) Có thể thay đổi bài tập chính tả cho phù hợp với lỗi của học sinh trong lớp.

d) Thường xuyên chấm bài, chữa lỗi cho học sinh, hướng dẫn học sinh cách tự chấm bài, chữa lỗi cho nhau.

IV. Kết quả đạt được.

Qua một thời gian chỉ đạo và thực hiện những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở huyện miền núi Lang Chánh ta thấy: Tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng dần theo từng học kỳ và từng năm học, số lượng học sinh yếu giảm mạnh. Chất lượng học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 1 được nâng cao rõ rệt.

Mặt khác, giờ dạy Tiếng Việt của giáo viên lớp 1 cũng gần gũi, sinh động và hấp dẫn hơn với học sinh, một số giáo viên chủ nhiệm là người địa phương vừa đóng vai trò là một giáo viên chủ nhiệm lớp lại vừa là một trợ giảng đắc lực giúp các em tiếp nhận kiến thức mới nhẹ nhàng. 

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Để nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở Miền núi không phải là việc làm một sớm, một chiều mà là cả một quá trình rèn luyện gian nan, bền bỉ, một mình ngành Giáo dục và Đào tạo không thể làm được mà cần phải có sự tham gia tích cực của cộng đồng phối hợp với các thầy, cô giáo trong việc vận động học sinh ra lớp và giáo dục học sinh; đặc biệt là sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương trong việc chỉ đạo, quan tâm xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ sách, vở, đồ dùng học tập,... cho học sinh Miền núi nhất là học sinh lớp 1. 

Việc chọn lựa giáo viên dạy lớp 1 cho học sinh Miền núi, chú trọng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh và đặc thù của từng vùng, miền cũng góp phần lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt lớp 1.

Chỉ đạo tốt việc dạy học theo Chuẩn kiến thức và kỹ năng môn học.

Thường xuyên tổ chức giao lưu cho học sinh như giao lưu Tiếng Việt của chúng em, câu lạc bộ Tiếng Việt, các trò chơi dân gian... để nâng cao vốn Tiếng Việt cho học sinh.

Trên đây là một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở huyện miền núi Lang Chánh, mỗi giải pháp có một thế mạnh và vị trí cần thiết trong quá trình dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1- đặc biệt là học sinh lớp 1 ở khu vực miền núi - giải pháp này thúc đẩy sự phát triển của giải pháp kia và ngược lại. Do đó, muốn phát huy được sức mạnh của các giải pháp trên cần có sự liên kết, hỗ trợ giữa các giải pháp. Tuy nhiên, tùy theo thực tế của từng trường và từng địa phương để lựa chọn các giải pháp phù hợp và đạt hiệu quả cao. Rất mong được sự góp ý chân thành và chia sẻ kinh nghiệm của các bạn đồng nghiệp. Tôi xin chân thành cám ơn!

                                                              Lang Chánh, tháng 6 năm 2012

 

File đính kèm: