chăm sóc bà bầu| chăm sóc sau sinh|

Xuân năm Thìn, Bác Hồ chúc Tết

Xuân năm Thìn, Bác Hồ chúc Tết

 Nguyễn Xuyến

Mùa Xuân Độc lập đầu tiên sau Cách mạng ThángTám 1945 - mùa Xuân Bính Tuất - là một mùa Xuân không thể nào quên được. Lần đầu tiên, cả nước được nghe Thơ chúc Tết của Bác Hồ là vào giao thừa năm 1946. Mọi người vẫn còn nhớ lời Bác nhắn gửi các chiến sĩ lúc bấy giờ đang chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược ở miền Nam nước ta:

Bao giờ kháng chiến thành công

Chúng ta cùng uống một chung rượu đào.

và chúc Tết toàn thể đồng bào:

Trong năm Bính Tuất mới.

Muôn việc đều tiến tới.

Kiến quốc mau thành công.

Kháng chiến mau thắng lợi... 

Từ đó cho đến lúc Bác đi xa, đều đặn năm nào, Bác cũng có Thơ chúc Tết đồng bào. Và đã thành một tập quán mới, mỗi năm Xuân đến, mọi nhà, mọi người náo nức đón Thơ Xuân của Người.

Năm 1952, cuộc kháng chiến trường kỳ, toàn dân, toàn diện và anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược đã qua được 6 năm đầy gian khổ và hy sinh, nhưng chỉ còn hai năm nữa là hào quang Điện Biên Phủ, là “Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”, Bác Hồ, với 4 câu đầu trong Thơ Chúc Tết Nhâm Thìn (1952), đã củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vào thắng lợi cuối cùng:

Xuân này, Xuân năm Thìn

Kháng chiến vừa 6 năm

Trường kỳ và gian khổ

Chắc thắng trăm phần trăm.

Tiếp đến, Người kêu gọi:

Chiến sĩ thi giết giặc

Đồng bào thi tăng gia.

Với quyết tâm chính trị cao, Người khẳng định:

Năm mới thi đua mới

Thắng lợi ắt về ta.

Bài Thơ chúc Tết được kết thúc bằng những lời dung dị, gần gũi với cái chất dân gian, dân tộc đã làm cho những vần thơ Xuân của Bác dễ dàng đi vào lòng người một cách tự nhiên:

  Mấy câu thành thật nôm na

        Vừa là kêu gọi vừa là mừng Xuân.

Xuân Giáp Thìn (1946), trong Thơ chúc mừng năm mới, Bác Hồ viết: “... Đồng bào miền Nam đang anh dũng chiến đấu cho tự do độc lập và đang giành được nhiều thắng lợi vẻ vang. Đồng bào miền Bắc phải hết lòng ủng hộ đồng bào miền Nam. Phải ra sức xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi làm cơ sở vững mạnh cho công cuộc đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”. Rồi, Người nhắc nhở, giao nhiệm vụ cho nhân dân miền Nam, miền Bắc đoàn kết chiến đấu:

Nam Bắc như cội với cành,

Anh em ruột thịt đấu tranh một lòng.

Tiếp đến, Người khẳng định:

Rồi đây thống nhất thành công,

Bắc Nam ta lại vui chung một nhà... 

Đặc biệt, ngày 14-1-1964, Bác Hồ có thư gửi binh sĩ thuộc chính quyền miền Nam. Lời lẽ trong thư thật chân tình, chứa chan tấm lòng nhân hậu. Mở đầu thư, Người tự hỏi: “Bước sang năm 1964, nên chúc anh em cái gì đây?”. Rồi Người viết: “Có lẽ điều tốt nhất là chúc anh em có đầu óc sáng suốt để phân biệt điều gì phải, điều gì trái, ai là bạn, ai là thù. Do đó mà đi vào con đường chính nghĩa, để xây dựng hạnh phúc cho bản thân và cho cha, mẹ, vợ, con của anh em... 

Chắc anh em đều có lương tâm đối với Tổ quốc. Vì bị đế quốc Mỹ và lũ tay sai lừa bịp và bắt ép mà anh em cầm súng chống lại đồng bào. Nếu từ nay giác ngộ, quay về với nhân dân, thì anh em cũng xứng đáng với Tổ quốc... Như thế là:

Trên vì nước, dưới vì nhà

Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.

Chúc anh em trở thành những binh sĩ yêu nước!”

Không ai ngờ chỉ năm năm sau, vào giao thừa Mậu Thân chuyển sang Kỷ Dậu (2 -1969), đồng bào và chiến sĩ cả nước quây quần bên nhau chăm chú lắng nghe bài thơ chúc Tết cuối cùng của Người truyền qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,

Năm nay, tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào.

Bắc - Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

Năm ấy, Bác đã 79 tuổi, song lời thơ của Người vẫn thể hiện một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Lời thơ Xuân như hịch truyền cổ vũ cuộc đấu tranh cách mạng ngoan cường mà Hồ Chí Minh là ngọn cờ, là hồn thiêng sông núi.

Với bài thơ chúc tết cuối cùng, Bác dự đoán Mỹ cút, ngụy nhào và đã là một dự đoán thật chính xác. Người báo trước không những chúng sụp đổ, mà cả cái hình thức sụp đổ khác nhau khá độc đáo của chúng.

Bài Thơ chúc Tết Kỷ Dậu - 1969 mang khí thế của toàn dân ra trận, lời thơ thật là tha thiết, thật là mãnh liệt và tràn đầy tin tưởng. Đồng bào miền Nam nghe tiếng Bác trên Đài Tiếng nói Việt Nam mà rưng rưng nước mắt và mong sao chóng đến ngày thống nhất đất nước, được rước Bác vào thăm. Nhưng ước mơ đó không thành. Ngày 2-9-1969, Bác đã đi vào cõi “trường sinh” để lại muôn vàn tình thương yêu cho cả nước và thế giới.

Từ đó, hàng năm, đến giao thừa, ta không còn cái hạnh phúc được nghe giọng ấm cúng của Bác đọc Thơ Xuân mới nữa, nhưng âm vang hào hùng và sâu lắng trong những bài Thơ Xuân của Người vẫn rung động lòng ta mãnh liệt.

Cảm xúc khi nghe Thơ chúc Tết, mừng Xuân của Bác, nhà thơ Tố Hữu đã viết:

“Giọng của Người không phải sấm trên cao

Thấm từng tiếng, ấm vào lòng mong ước.

Con nghe Bác, tưởng nghe lời non nước.

Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau...”

Bác đã sống mãi cùng với Thơ Xuân của Người. Và cứ mỗi khi Xuân về, Tết đến, những vần Thơ Xuân của Bác như vẫn còn văng vẳng bên tai chúng ta và mỗi chúng ta không khỏi bùi ngùi nhớ Người và thầm đọc:

“Bác ơi! Tết đến giao thừa đó

Vẫn đón nghe thơ Bác mọi lần.

Ríu rít đàn em vui pháo nổ

Tưởng nghìn tay Bác vỗ sang xuân”

                                                                 (Tố Hữu - Theo chân Bác)

 
File đính kèm: