chăm sóc bà bầu chăm sóc sau sinh mỹ phẩm son iope đèn sưởi nhà tắm hộp cơm hâm nóng chefman

Sở giáo dục Thanh Hóa

Bài viết

Những sự kiện chính giai đoạn 1945-1954

19/08/1945: Tổng khởi nghĩa thắng lợi, Cách mạng dân tộc dân chủ thành công.

Đêm 18-8 đến 21-8/1945: Khởi nghĩa giành chính quỳen ở tỉnh ta đã thành công ở khắp các huyện đồng bằng và Thạch Thành, Cẩm Thủy (trừ huyện lỵ  Đông Sơn và các huyện miền núi còn lại).

          23/8/1945: Chính quyền Cách mạng tỉnh được thành lập.

          30/8/1945: Chính quyền Cách mạng tỉnh trong thông báo gửi cho UBND các phủ huỵện châu và các công sở trong tỉnh quyết định cử ông Lê Tất  Đắc làm Chủ tịch tỉnh, ông Nguyễn Văn Huệ làm Phó chủ tịch. Ông Nguyễn Hữu Loan được cử làm Ủy viên Giáo dục và phụ trách một số mặt công tác khác.

          2/9/1945: Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Namdân chủ cộng hòa ra đời.

          3/9/1945: Bác Hồ nêu rõ: “Nạn dốt là một  trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng  để cai trị chúng ta. Hơn 90% đồng bào chúng ta mù chữ ... Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ:.

          8/9/1945: Chính phù Việt Nam DCCH  ra sắc lệnh bãi bỏ ngạch học quan, giải tán Bộ Giáo dục – Mỹ học cũ ở Huế, thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục tại Hà Nội (Ồng Vũ Đình Hòe được giữ chức vụ Bộ trưởng đầu tiên).

          Sắc lệnh số 20: Quy định việc học chữ quốc ngữ không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn định trong 1 năm tất cả mọi người từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết . Ai trong đó không đảm bảo điều đó phải nạp tiền phạt.

          Tháng 9 năm 1945: Hồ Chủ Tịch gửi thư cho học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước VNDCCH.

          “Ngày hôm nay là ngày khai trường đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tôi đã tưởng tượng thấy trước mắt cái cảnh nhộn nhịp tưng bừng của ngày tựu trương ở khắp các nơi. Các em hết thảy đều vui vẻ vì sau mấy tháng giời nghỉ học, sau bao nhiêu cuộc chuyển biến khác thường, các em lại được gặp thầy, gặp bạn. Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi, các em được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam...

          Sau hơn 80 năm giời nô lẹ làm cho nước nhà bị yếu hèn ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước trên tòan cầu. Trong công cuộc kiến thiết đo, nước nhà trông mong và chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không , chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

          4/10/1945Bác Hồ ra lời kêu gọi chống nạn thất hoc.

          10/10/1945: Chính phủ ra sắc lệnh thành lập Hội đồng cố  vấn học chính, Hội đồng có nhiệm vụ soạn thaỏ chương trình giáo dục của nước Việt Nam mới. Cố vấn về giáo dục ở các ngành học, cấp học.

          Tháng 9,10,11 – 1945: Chính phủ quyết định chuyển sang công chức ít việc ở các cơ quan nhà nước sang làm công tác BDHV thời hạn 1 năm. Công chức bận vịec luân phiên làm công tác BDHV 4 tháng. Mỗi công sở phải cử ít nhất 1 đến 3 người làm công tác này. Bộ QGGD mở các lớp huấn luyện giáo viên BDHV. Tỉnh, huyện, xã, thôn đều mở các lớp huấn huyện.

          Bộ Quốc gia Giáo dục ra các Nghị định, Thông tư về bộ máy quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. Theo đó Bộ Quốc gia Giáo dục có các Nhà: Nhà Giám đốc Đại học vụ; Trung học vụ; Tiểu học vụ; Bình dân học  vụ. Ở các miền có Ủy viên giáo dục, Ty  thanh tra tiểu học (Nha học chính tỉnh) gồm Chánh thanh tra và các phó thanh tra, Ty BDHD.

          9-1945: Thanh Hóa: Thành lập Ty thanh tra tiểu học. Ông Phạm Phú Lượng được cử làm Chánh thanh tra (Giám đốc học chnáh, Trưởng ty thanh tra tiểu học). Thành lập Nha BDHV, ông Lê Duy Hoàn được cử làm Ty trưởng.Các ông Chu Đình Vấn, Chu Đình Lơi, Nguyễn Trí Khiết, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Văn Thọ, Đinh Văn Liên... làm Phó Thanh tra phụ trách 1 hay 1 số huyện. Các quận, huyện, thôn, xã đều lập Ban BDHV gồm chủ tịch, phó chủ tịch, các kiểm soát viên và giáo viên. Bầu Ủy ban học chánh (Có nhiệm vụ cố vấn, giám sa,ts giáo dục, ngăn ngừa hoạt động phá hoại; ủng hộ chính quyền nhân dân) 324 giáo viên đã bầu 15 ủy viên đại diện cho các huyện, thị do ông Trần Khiêu làm Chủ tịch, ông Lê Duy Hoàn làm Phó chủ tịch.

          Giáo giới tổ chức mít tinh chào mừng, ủng hộ Cách mạng và Chính quyền nhân dân.

          25/9/1945: Ủy ban Lâm thời nhân dân tỉnh gửi quyết định cho ủy ban lâm thời nhân dân các quận (tức huyện, phủ cũ) yêu cầu bàn giao lại nhà trường cho Nha học chính, đồng thời tu sửa lại bàn ghế, trường lớp chuẩn bị cho khai giảng.

          30/09/1945: Các trường tiểu học trong toàn tỉnh đã ổn định trường lớp (giải tán 400 hương trường – học sinh học ở các lớp truyền bá quốc ngữ, giáo viên chuyển sang dạy BDHV, đổi tên một số trường, củng cố tổ chức lại đội ngũ giáo viên (thải hồi, thuyên chuyển, tuyển dụng mới). Phát lệnh chiêu sinh trở lại để chuẩn bị cho năm học mới.

          1/10/1945: Là ngày khai giảng năm học đầu tiên (1945 – 1946) của nước Việt Nam DCCH ở Thanh Hóa (và tất cả các nhà trường thuộc Trung bộ lúc bấy  giờ).

 

 

Việt Nam Dân chủ cộng hòa                              Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

          Năm thứ nhất

           ------*-------                 Thuận Hóa ngày 25 tháng 9 năm 1945

 

                                                                   Ủy trưởng Giáo dục

 

Gửi: Các Ủy viên Giáo dục các tỉnh, đạo Trung bộ.

 

          1. Ngày khai giảng: Thứ hai, 1 tháng 10 năm 1945.

          2. Chương trình học khóa: Theo huấn  luyện của ông Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục các trường sẽ tạm dùng chương trình của Nội các Trần Trọng Kim sửa đổi cho phù hợp với chính thể mới (Bỏ hết những điều nói về quân chủ; giảng cho học sinh hiểu về chính thể của nước VNDCCH)... trong khi chờ đợi chương trình chính thức của Bộ Quốc gia Giáo dục.

          3. Thời khóa biểu: Theo công văn số 34E ngày 19/9/1945 (Theo công văn này, mùa đông buổi sáng học từ 8 giờ đến 11giờ. Buổi chiều từ 14 giờ đến 16 giờ; Mùa hè, buổi sáng từ 7 giờ đến 11 giờ; Buổi chiều từ 15 giờ đến 17 giờ).

          Học trò chỉ học chính khóa vào buổi sáng. Buổi chiều ngoại khóa (Thể dục, tập hát. làm vườn, chơi các trò chơi có hướng dẫn).

 

                                         (Trích yếu theo Hồ sơ lưu trữ của UBND tỉnh)

 

          10/1945: Thanh Hóa cử 1 đoàn giáo viên ra Hà Nội dự khóa huấn luyện Hồ Chí Minh về phương pháp dạy BDHD.

          11/1945: Phong trào thi đua diệt dốt, BDHV phát  triển mạnh. Các trường tiểu học trong tỉnh (282 trường) đã đi vào hoạt động dạy học bình thường . Riêng trường trung học (cấp II) Đào Duy Từ bị quân Tưởng (Đại diện Đồng minh vào giải giáp quân Nhật) chiếm làm trụ sở, mặc dầu chính quyền nhân dân, thầy trò nhà trường vẫn chưa hoạt động trở lại nên khai giảng chậm (tháng 12) và phải tổ chức ở một địa điểm ngoài nhà trường.

          - Mở 1 lớp SP cấp tốc đặt tại Thanh Hóa, đào tạo  giáo viên  tiểu học cơ bản cho các tỉnh Trung bộ.

          - Tỉnh ủy  họp  hội nghị đánh giá tình hình chung sau Cách mạng Tháng Tám, triển khai chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng đến tận các bản làng heỏ lánh. Các tổ chức Thanh niên cứu quốc. Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Thiếu nhi cứu quốc, Nông hội, Công hội cứu quốc hoạt động có nề nếp, chương trình cụ thể, thiết thực.

          6/1/19446: Bầu cử Quốc hội khóa đầu tiên của nước VNDCCH. 96% cử tri Thanh Hóa đi bỏ phiếu. Sau đó Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp từ tỉnh đến xã đã được thành lập, quản lý xã hội thay các Ủy ban lâm thời. Chính quyền đã ổn định được trật tự chính trị xã hội trong toàn tỉnh  tạo điều kiện cho Thanh Hóa bước vào cuộc trường kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 – 1954).

          14/6/1946: Bộ Quốc gia Giáo dục quyết định bỏ chức Ủy viên giáo dục tỉnh. Thanh tra tiểu học làm nhiệm vụ quản lý hành chính chuyên môn chung.

          26/6/1946: Đặt phù hiệu cho những người làm công tác BDHV trong toàn quốc.

          10/8/1946: Chính phủ ra Sắc lệnh số 146 đặt những Nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục Việt Nam mới.

          Nền giáo dục của nước VNDCCH là một nền giáo dục duy  nhất, đặt  trên 3 nguyên tắc cơ bản: Đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa theo tôm chỉ phụng sự lý tưởng quốc  gia và dân chủ.

          Ra sắc lệnh 147 tổ chức  bậc học cơ bản gồm 4 năm cho trẻ em từ 7 tuổi trở lên. Mỗi học sinh không được lưu ban quá 2 năm. Chương trình gồm 2 phần: Phần kiến thức  thường thức và phần giáo dục đức dục, phát triển  năng  khiếu. Bắt đầu từ 1950 bậc học này sẽ là bậc học cưỡng bách.

          3/9/1946: Chính phủ ra Sắc lệnh 175B gia hạn thêm 1 năm kể từ 8/9/1946 để mọi người Việt Nam biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.

          8/10/1946: Ra sắc  lệnh 194 thành lập ngành Sư phạm.

          Năm 1946: Nhân dân Thanh Hóa trong sự vui mừng của độc lập tự do đã dốc sức xây dựng chính quyền, tiếp tục đấu tranh, trấn áp những hành động phá hoại của quân Tưởng và bọn  tay sai ( ở ấp Di Linh, khách sạn Tứ Dân,  Bồng Lai, trụ sở Nông Giang). Sau  khi quân Tưởng  rút khỏi  Thị xã (5/1946) đã bắt tay vào việc thực hiện chỉ thị Kháng chiến kiến quốc của Trung ương Đảng.

          Trong thời gian này tiếp tục thi đua diệt dốt, mở lớp BD HV cho người đã thanh toán nạn mù chư, mở các lớp ngắn hạn huấn luyện giáo viên BDHV đến tận xóm. Tiếp tục  ổn định tiểu học  toàn tỉnh (bồi d ưỡng, hướng dẫn cách thức dạy thể dục, tập hát, làm vườn, tổ chức các trò chơi đã lần lượt  mở 5 lớp với 300 người  tham dự, thời gian mỗi lớp 7 ngày).

          Các ấu trĩ viên hoạt động trở lại (nhưng không do ngành Giáo dục quản lý).

          Chủ tịch UBHC tỉnh gửi hiệu triệu đến tất cả các trường  trong tỉnh kêu gọi tinh thần của giáo viên, học sinh đối với công cuộc bảo vệ non sông đất nước.

            19/12/1946: Toàn quốc kháng chiến. Hồ Chủ Tịch ra lời kêu gọi: “Thà hy sinh tất cả chứ  không chịu mất nước, không chiụ làm nô lệ”.

          3/2/1947: Huấn thị số 102 của Bộ Quốc gia Giáo dục:

          “Sự giáo dục trong thời kỳ kháng chiến cũng như lúc bình thường rất quan hệ với tiền đồ quốc gia, vì thanh niên là sức hoạt động hiện tại và vốn liếng của tương lai nước nhà. Vì vậy theo chỉ thị của Cụ Chủ tịch trong dịp tết Nguyên đán vừa rồi, những nơi chưa trực tiếp với chiến tranh, các trường cần phải tiếp tục việc giảng dạy. Nhưng cần phải sửa sang nội dung cho sát với trường kỳ kháng chiến”.

20/2/1947: Chủ tịch  Hồ Chí Minh vào thăm Thanh Hóa lần đầu tiên. Người giao nhiệm vụ cho Đảng bộ nhân dân do tỉnh xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh kiểu mẫu, một trong những  hậu phương vững mạnh toàn diện: “Mọi mặt phải kiểu mẫu, làm một người kiểu mẫu, một nhà kiểu mẫu, một làng kiểu mẫu”.

Trong đợt vào thăm và kiểm tra  bày của Bác, ông Lê Duy Hoàn phụ trách BDHV tỉnh đã báo cáo với Bác những thành tích cùng những khó khăn nan giải của Thanh Hóa trong công tác XMC và BDHV. Bác giao cho cụ Lê Thước và ông Đặng Thai Mai thành lập một Ban văn hóa  với trách nhiệm “Làm sao cho đến tháng 6 – 1947 số người mù chữ phải bớt 50%... Ban văn hóa phải tìm cách không cần đến tiền mà vẫn học được, như “gia đình đọc hiệu”, “tiểu giáo viên”, cả làng chung gạo nuôi một thầy giáo...  không có giấy  thì viết vào cát, không có bút thì dùng lẽ tre....(Gia đình học hiệu: trường học ở gia đình; lẽ tre: cành tre nhỏ).

Bác  thay mặt Chính phủ  cho Thanh Hóa 10 vạn đồng để làm quỹ phát triển BDHV.

4-1947: Thực dân Pháp theo đường Lào vào chiếm miền tây tỉnh ta (Hồi Xuân, La Hán huyện Quan Hóa, Cổ Lũng  huyện Bá Thước, Bát Mọt huyện Thường Xuân). Tháng 7 quân dân tỉnh ta đã tiến đánh  tiêu diệt buộc Pháp  phải  lui  về biên giới Việt – Lào. Quân dân miền  biển đập tan cuộc tập kích của Pháp và các tổ chức phá hoại ở Hà Trung, Tĩnh Gia, Quảng Xương.

Tháng 4 đến tháng 6 – 1947: Các cơ quan công sở và nhân dân thị xã, các vùng trọng điểm  triệt để  tản cư. TY BDHV về làng Đan Nê xã Yên Thọ huyện Yên Định (nay đều thuộc huyện  Thiệu Yên). Học sinh tiểu học  theo gia đình, học tập ở các địa phương tản cư. Trường trung học Đào Duy  Từ  về Vĩnh Thành (Vĩnh Lộc).

Tháng 7 và 8 – 1947: Mở trại  hè Hà Thành (xã Thiệu Minh huyện Đông Sơn ngày nay) để bồi dưỡng  giáo  viên cấp II  và một số giáo viên cấp I. Ban lãnh đạo gồm ông Nguyễn Lương Ngọc, Đoàn Nông... Ông Tố Hữu và Trần Hữu Dực có đến thăm, nói chuyện, giáo viên là các ông: Ông  Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Đặng Việt Châu...

- Thành lập Lien  đoàn  giáo giới Thanh Hóa. Đảng thông qua Liên đoàn để lãnh đạo giáo dục. Liên đoàn giáo giới các huyện lần  lượt được thành lập.

1948: Hội nghị Giáo dục liên khu IV (từ Thanh Hóa đến Bình Trị - Thiên). UBKCHC Liên khu IV  gửi công văn yêu cầu UBKCHC các tỉnh mở thêm trường lớp công và tư thục xây trường mới để tạo điều kiện đáp ứng nhu cầu học tập của con em.

- UBKCHC tỉnh ra quyết định  thành lập Tiểu ban điều tra chống nạn mù chữ do Chủ tịch hoặc đại diện UB làm chủ tịch từ cấp  tỉnh đến cấp huyện. Tiểu ban đã triệu tập hội nghị có đại diện các đoàn thể nhân dân để phổ biến quyết định và tiến hành điều tra.

- Thành lập một phòng đại diện BDHV vùng cao (lúc bấy giờ gọi là thượng du gồm 6 huyện miền núi ngày nay, trừ Thạch Thành và Cẩm Thủy xếp vào vùng gọi là trung châu).

- Đào tạo, huấn luyện giáo viên dạy BDHV. In  tài liệu giáo  khoa  BDHV được 4 loại, mỗi loại  hàng vạn quyển.

- Tổ chức liên tục các đợt thi  đua thanh toán nạn mù chữ.

- Mở thêm lớp trung học ở trường trung học Đào Duy Từ; ở các trường tiểu học cơ bản (có đủ 5 lớp cho cấp học) Quảng Xương, Tĩnh Gia, Yên Định (cũ) mỗi trường thêm 1 lớp đầu trung học (lớp 5).

- Thành lập 6 trường tiểu học cơ bản ở các huyện miền núi.

- Mở 1 khóa sư phạm, mở thêm trường tư thục, các lớp tiểu học ở gia đình.

1949: Nha BDHV đặt Giải thưởng thi đua diệt dốt năm 1949 (thông báo ngày 19 – 3).

- Bộ Quốc gia Giáo dục ra Nghị định 652 về việc lập Hội giúp giáo dục ở tỉnh và xã. Hội có nhiệm vụ “Giúp đỡ các công việc  giáo dục về mọi mặt ở địa phương”. Ở xã do hiệu trưởng trường tiểu học  làm chủ tịch, đại diện UBKCHC xã làm phó chủ tịch, ở tỉnh do hiệu trưởng trường  trung học hay trưởng ty Thanh tra tiểu học làm chủ tịch, đại diện UBKCHC tỉnh làm phó chủ tịch (ngoài ra còn đại diện đoàn thể nhân dân, đại diện giáo viên, phụ huynh làm ủy viên, phụ huynh làm ủy viên). Hội cấp xã do UBKCHC tỉnh,  hội cấp  tỉnh do UBKCHC Liên khu ra quyết định thành lập.

1948 – 1949 (cho đến nữa đầu năm 1950): Quân dân  Thanh Hóa vẫn tiếp tục chiến đấu ở mặt trận miền Tây và  vùng biển Nga Sơn (3 xã bị giặc Pháp chiếm).

Năm 1949: Đại hội đại biểu Đảng bộ Thanh Hóa lần thứ II (tháng 4), đặt yêu cầu tiếp tục  thanh toán nạn mù chữ, phát triển giáo dục phổ thông.

- Trường trung học bình dân Trần Phú được thành lập (19 – 9). Trường  có nhiệm  vụ dạy BTVH cho cán bộ Đảng và một số giáo viên có uy tín. Trường trực thuộc tỉnh. Mỗi lớp học 6 tháng, 40  học viên mỗi khóa (trường Trần Phú đào tạo được 4 khóa, đến tháng 10 năm 1951 thì ngừng hoạt động).

- Ngành BDHV mở 4 lớp huấn luyện cho cán bộ xã (101 người), 10 lớp huấn luỵen  giáo  viên dạy lớp dự bị (686 người), 12 lớp huấn luyện giáo viên dạyh lớp sơ cấp bình dân (827 người), 7 lớp huấn luyện quân chính cho 242 GV, mở 2 lớp huấn luyện GV BDHV cho miền núi (191 người).

Ngành GDPT  ngoài các kỳ thi tốt nghiệp thường niên đã mở và tổ chức thi cho 1 kỳ sư phạm thực hành, 2 kỳ kỹ nghệ thực nghiệm. Mở 4 lớp huấn  luyện giáo viên (thời gian 1 tháng/lớp từ 20/7 đến 20/8). Tổng số người được huấn luyện là 177. Mở 5 trại hè tu nghiệp cho giáo viên (thời gian 2 tuần) số người tham gia: 515. Thực hiện 2 kế hoạch thi đua, thu hút 70 – 80% giáo viên tham gia. Tổ chức đợt ủng hộ vật chất, xung phong vào giúp giáo dục Bình – Trị - Thiên và vùng cao (gọi là Xung  Thiên, Xung Thượng). Tham gia quyên góp, may áo rét cho bộ đội, tham gia dạy BTVH và tăng  gia sản xuất. Trong số 595 học sinh của trường Đào Duy  Từ có 514 học sinh (37 nữ) tình nguyện tòng quân, 64 trong số đó đã có lệnh nhập ngũ (ngày 29 tháng 12). phối hợp với Bộ Tư lệnh quân khu IV  tổ chức tập quân sự cho học sinh  Đào Duy Từ (thời gian 2 tháng).

Tháng 7  và 8 – 1949: Khu  Giáo dục Khu Ba và các  trường trung học trong khu tản cư vào Thanh Hóa. Khu  giáo dục và trường Nguyễn Huệ (Hà Đông cũ) đóng  ở làng  Đoán Quyết (Thiệu PhúcThiệu  Yên ngày nay). Chuyên  khoa Nguyễn Thượng Hiền (tức trường cấp III của toàn  Liên khu) ở Ngô Xá (Thiệu Minh Đông Sơn ngày nay) Lê Quý Đông (Thái Bình) ở Bát Căng (Thọ Xuân), Hoa Lư (Ninh Bình) ở Núi Go (Thiệu Đô Đông Sơn ngày nay) Nguyễn Khuyến (Nam  Định cũ ) ở Thiệu Toán (Đông Sơn ngày nay), Nguyễn Biểu (Hà Nam cũ)  ở Cầu Vàng (Thiệu Yên ngày nay).

5 – 7  tháng 2 – 1950:  Đại hội BDHV  toàn tỉnh được tổ chức. Đại hội đã quyết định mở một chiến dịch diệt dốt, mở đầu là Tuần lễ toàn dân diệt dốt. Tiếp đến là các tuần lễ diệt d ốt cho các đoàn thể, tổ chức  đảm nhiệm: Phụ lõa diệt dốt, Công nông diệt dốt, Thnah niên diệt dốt, Dân quân diệt dốt...

- UBKCHC tỉnh ra lời hiệu triệu về chiến dịch diệt dốt năm 1950 (nagỳ 22-2). Ty BDHV có kế hoạch tổng phản công giặc dốt trong 10 ngày cuối năm (15-24/11).

- Mở rộng  trường BTVH cho cán bộ xã lấy tên là trường Nguyễn Công Mỹ ( Nguyễn Công Mỹ là  Tổng giám đốc BDHV đầu tiên đã quá cố) và 5 trường BTVH cho 5 khu vực.

- Bàn giao hệ thống Ấu trĩ viên cho Giáo dục. Ty giáo dục phổ thông đã tổ chức 42 lớp mẫu giáo cho 4 huyện trung châu (mỗi huyện 3 lớp) và 8 lớp đặt ở thị trấn trong các  trường cấp I, mỗi lớp có 1 giáo viên  và 1 nhân viên. Tổ chức 1 lớp huấn luyện cho cán bộ mẫu giáo.

4 – 1950: Mở và tuyển sinh  trường Trung cấp Ngoại giao tại Thanh Hóa.

4 – 7 – 1950: Nghị định của Bộ QGGD bãi bỏ Ấu  trĩ viên (Vườn trẻ),  thành lập Ban Mẫu giáo trực thuộc Bộ. Ban có nhiệm vụ xây dựng chương trình, nội dung, phương pháp  để giáo dục trẻ từ 3 đến 7 tuổi.

1950: Đảng và Chính phủ quyết định tổ chức rèn luyện  cán bộ, chỉnh đốn cơ sở.

(Rèn cán chỉnh cơ)

- Thành lập Ban phụ trách từ tỉnh huyện đễ xã, ban cấp nào cũng gồm đại diện UBKCHC, đại diện  các đoàn thể nhân dân, hiệu trưởng trường, phụ trách BDHV, đại diện giáo viên... Ban phụ trách Rèn cán chỉnh cơ Thanh  Hóa  gồm: Ông Lê Công Hòa đại diện UBKCHC tỉnh, đại diện Liên Việt; Hội giúp giáo dục, Liên đoàn giáo giới (ông Lữ Trọng Đào); ông Đoàn Nồng (Hiệu trưởng  trường Đào Duy Từ); ông Trương Quang Giai, Bửu Hoan (đại diện giáo sư); ông Nguyễn Tri Khiết (Trưởng ty Thanh tra Tiểu học); ông Đinh Văn  Liên (Phó Thanh tra Tiểu học). Ông Lê Bá Vịn (thanh tra tiểu học) ông Nguyễn Xuân Kỳ, Lại Hoàng Tràng (Hiệu trưởng tư thục), ông Lê Như San, ông Lê Vinh (đại diện giáo sư  tư thục). Ban  phụ trách cử ra ban thường vụ gồm 5 người do ông Lê Công Hòa làm trưởng ban, có 3 nhân viên  giúp việc.

Từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 9 phong trào Rèn cán chỉnh cơ sôi nổi diễn ra:

18 – 25/ 6 Hội Rèn cán chỉnh cơ của BDHV với 300 người tham gia.

- Tổ chức cuộc học tập dân chủ cho hiệu trưởng, giáo sư trung học tư thục ( 70 người).

- Hội nghị hiệu trưởng các trường Trung học, tiểu học công và tư toàn tỉnh (240 người).

- Giáo viên, cán bộ BDHV tham gia kiểm thảo do các UBKCHC tổ chức.

- Các trường đều tổ chức kiểm điểm trước nhân dân.

Từ 4 đến 6 tháng 9, hội nghị Rèn cán chỉnh cơ ngành Giáo dục Thanh Hóa tổ chức.

Địa điểm: Phố  Đầm, xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, số người tham gia: 1.230 người ( tất cả cán bộ giáo viên thuộc ngành).

Sau phong trào Rèn cán chính cơ, Đảng đã xác lập vững chắc sự lãng đạo cuả mình trong giáo dục Thanh Hóa từ tỉnh đến cơ sở. Ban cán sự Đảng trong Giáo dục đã được thành lạp (các ông Nguyễn Duy Sĩ, Lê Bá Vịn...), các nhà trường được chấn chỉnh,  giáo viên được nâng lên cả 2 mặt tư tưởng đạo đức chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, tạo cơ sở vững chắc cho giáo dục Thanh Hóa phát triển.

22-7-1950: Bộ QG GD  ra Thông tư 54 – TTp3 nêu rõ: Đây là một phong trào cần làm thường xuyên, nghiêm túc. Là điều kiện căn bản để thực hiện đổi mới, chấn chỉnh giáo dục. Nó rèn luyện tư tưởng, tư cách và chuyên môn cho cán bộ, giáo viên trong ngành để có đủ tài năng phụng sự giáo dục nước nhà. Là nhiệm cụ của tất cả các đơn vị, cán bộ giáo viên. Thành lập một Bna phụ trách ở Bộ. Từ tỉnh đến huyện xã đều có Ban phụ trách.

Tháng 7 năm 1950: Hội đồng chính phủ thông qua Đề án Cải cách giáo dục và quyết định  bắt đầu thực hiện cuộc cải cách này. Theo đề án, nền giáo dục của nước VNDCCH được chính thức tuyên bố là Nền giáo dục của nhân dân, do dân, vì dân. Được xây dựng theo nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng.

Mục tiêu đào tạo: Giáo dục thế  hệ trẻ trở thành c ông dân trung thành với tổ quốc có năng lực  và phẩm chất phục vụ đất nước.

Phương châm giáo dục: Học đi đôi với thực hành lý luận  gắn với thực tiẽn.

Nội dung  giáo dục phổ thông: Tập trung vào một môn: Tiếng Việt, Văn, Tóan, Lý, Hóa, Sinh; Có các môn  học mới: Thời sự chính sách, giáo dục công dân, Tăng gia sản xuất. Không học các môn Ngoại ngữ, Nhạc, vẽ,  Nữ công gia chánh.

Cơ cấu trường  phổ thông: Gồm 3 cấp học, cấp I, cấp II, cấp III. Tất cả 9 năm, cấp I: 4 năm (lớp 1 đến lớp 4) thay cho bậc tiểu học cũ 6 năm; cấp II: 3 năm (lớp 5 đến lớp 7) thay cho bậc trung học đệ nhất gồm 4 năm, cấp III; 2 năm (lớp 8 đến lớp 9) thay cho  bậc trung học chuyên nghiệp (hay đệ nhị cấp).

Hệ thống  giáo dục bình dân (cho người lớn): Có 4 cấp: Sơ cấp (học 4 tháng xóa mù chữ); Dự bị bình dân (4 tháng đạt trình độ lớp 2,3 phổ thông); Bổ túc bình dân (học 8  tháng đạt  trình độ  lớp 5 phổ thông)  và trung cấp bình dân hay trung học  bình dân (học 18 tháng đạt trình độ lớp 8 phổ thông).

Hệ thống giáo dục chuyên nghiẹp: Gồm  các hệ số sơ cấp (học sinh tốt nghiệp lớp 4 học từ 1 đến 2 năm); Trung cấp (học sịnh  tốt nghiệp lớp 7 học từ 2 đến 4 năm).

Hệ thống Đại học: Lấy học sinh tốt nghiệp lớp 9 hoặc hết lớp 9 ( phải qua 2 năm dự bị đại học).

31-7-1950: Bộ Quốc gia Giáo dục ra Thông tư 56 – TT – P3 thực hiện đề án CCGD  qui định mục tiêu yêu cầu của từng cấp học. Theo đó, cấp I sẽ nặng về chương trình quan sát cấp II sắp đặt quan sát  thành hệ thống, nặng về thực hành, cấp III lý luận và thực hành.

Về tổ chức học: Sát  nhập trường tiểu học vào trung học (nếu gần). Trường có lớp 5  gọi là trường cấp II,  trường có lớp 8 gọi là trường cấp III- Chú ý đến điều kiện  mở trường để tăng cường chất lượng. Không chạy theo số lượng như những năm trước đây. Trong điều kiện mà mở cấp II, có thể 1,2 huyện mở một trường . Mỗi trường có 1 hiệu trưởng và 1 hiệu phó (nếu là trường có 7 khối lớp trở lên hoặc có ký túc xá), một kế toán (nếu có ký túc xá) và 1,2  nhân viên văn phòng (không có ở cấp I). Trường có Hội đồng quản trị, Hội đồng chuyên môn, Hội đồng kỷ luật.

22-9-1950: Nghị đ ịnh thành lập Ban Bổ túc văn hó thuộc NHa trung học để tổ chức dạy học văn hóa cho cán bộ nhân dân. Tổ chức các trường Bổ túc văn hóa; lớp Bổ túc văn hóa nếu địa phương có điều kiện.

1-10-1950: Ty thanh tra tiểu học đổi là Ty  Giáo dục phổ thông.

- GDPT tiến hành chuyển hướng theo nội dung của CCGD; Sát nhập trường tiểu học vào trung học (Cấp 2); mở thêm các trường cấp II (Có cả cấp I). Trường trung học Đào Duy Từ đổi thành trường Lam Sơn là trường cấp III duy nhất của tỉnh với 5 lớp (3 lớp 8, 2 lớp 9). Ngoài ra trường còn 4 lớp cấp I, 8 lớp cấp II kể cả lớp sư phạm.

- Mở trường cấp II đầu tiên ở miền núi (thượng du) gồm 1 lớp 5, 23 học sinh đặt tại Ngọc Lặc ?(thực ra là trường cấp I có thêm 1 lớp 5).

- Mở thêm 1 số trường tư thục đưa tổng số trường tư thục lên 23 trường.

9-10-1950: Nghị định thành lập trường Sư phạm Sơ cấp (tốt nghiệp cấp I và tương đương, học 3 năm) đào tạo giáo viên cấp I; Thành lập  trường sư phạm trung cấp ( tốt nghiệp cấp học 3 năm); mở lớp sự phạm đặc biẹt (hét cấp II học 1 năm) đào tạo  giáo viên cấp I.

- Trường sư phạm sơ cấp Liên khu 4 mở ở Thanh Hóa, đào tạo giáo viên từ năm học 1950 – 1951.

Mở trường sư phạm cấp tốc miền núi đặt ở Ngọc Lạc (có 36 học viên).

11 – 1950:  Điều chỉnh cán bộ, giáo vien trên qui mô toàn tỉnh từ cơ quan Ty đến các trường để cán bộ, giáo vien được phân phối hợp lý về mọi mặt (Chính trị, văn hóa, chuyên môn).

18-12-1950: Nghị định  mở tại Liên khu IV những lớp Dự bị đại học có 3 ban: Văn, Toán,Vạn vật.

UBKCHC Liên khu IV quyết định thành lập Hội giúp giáo dục tỉnh Thanh Hóa do ông Đoàn Nồng (Hiệu trưởng trường Đào Duy Từ) làm chủ tịch.

12 – 1950: Mở cuộc vận động xây dựng Trường kiểu mẫu trên phạm vi toàn tỉnh (cơ ngơi khang trang, bàn ghế đầy đủ, giảng dạy và học tập tốt, có vườn tăng gia).

24 – 1 –1951: Bác Hồ gửi thư cho ngành BDHV hoàn nghênh kết quả diệt dốt, thanh toán nạn mù chữ đã đạt được, động viên mọi người, mọi tầng lớp, cơ quan đoàn thể tích cực tham gia thạnh toán nạn mù chữ hơn nữa để trong một thời gian ngắn “Tất cả đồng bào từ 8 tuổi trở lên đều biết đọc, biết viết”. Như thế mới “thắng lợi hoàn toàn”.

Đầu năm 1951: Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức Đại hội Đại biểu nhân dân toàn tỉnh phát động phong trào thi đua yêu nước “Tất cả để chiến thắng”.

30-1-1951: Hội nghị giáo dục Thượng du (6 huyện  vùng cao) được triệu tập có sự tham gia chỉ đạo của UBKCHC tỉnh nhằm “Sửa chữa quan niệm sai lầm về giáo dục miền núi, đề ra chương trình hành động để phát triển  giáo dục”.

3-3-1951: Đảng Cộng sản (tức Đảng Lao động lúc  bấy giờ) ra công khia, tỉnh ủy tăng cườnh  hợn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục. Thanh Hóa bước đầu  thực hiện giảm tô (25%) và triệt để giảm tức.

1-5-1951: Bác Hồ  viết bài “Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc” nêu rõ Đảng bao gồm cả trí thức yêu nước  và cách mạng nhất. Lao động trí óc cần được khuyên khích, giúp đỡ, phát triển  tài năng. Cần đào tạo cán bộ cho mọi ngành  hoạt động nên cần có thầy giáo. Hiện tại cần “Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ, công nông trí  thức hóa, trí thức công nông hóa”.

Năm 1951: Bộ GDGD ra Nghị định về  tổ chức các trường chuyên nghiệp, đào tạo cán bộ chuyên môn cho các ngành hoạt động nên cần có thầy giáo. Hiện tại cần “Đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ, công nông trí thức  hóa, trí thức công nông hóa”.

Năm 1951: Bộ QGGD ra Nghị định về tổ chức các trường chuyên nghiệp, đào tạo cán bộ chuyên môn cho các ngành gồm 3 hệ: Sơ cấp (lấy học sinh học hết cấp 1),trung cấp (lấy học sinh hết cấp 2) và cao cấp ( lấy học sinh hết cấp 3).

Ra Nghị định 318 ND bãi bỏ “Hội  giúp giáo dục tỉnh” để thành lập Tiểu ban giáo dục do đại diện BDHV cùng một số đại diện  đoàn thể làm ủy viên. Tiểu ban có nhiêm vụ “Nghiên cứu chủ trương chính sách giáo dục của Chính phủ. Định chương trình kế hoạch giáo dục của địa phương”.

Mở lớp dự bị đại học tại  Thanh Hóa.

Trường Sư phạm trung cấp Liên khu III chuyển vào chiêu sinh tại Thanh Hóa từ năm học 1951 – 1952.

Tháng 7 năm 1951:  Đại hội giáo dục toàn quốc, Bác Hồ gửi  thư cho đại hội yêu cầu “Đại hội kiẻm thảo kỹ công tác cải cách  về chương trình, chủ trương và cách thi hành để tìm thấy khuyết điểm mà sửa đổi, những ưu điểm mà phát triển thêm. Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết  với đời sống của nhân dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc. Làm thế nào để phối hợpk  việc giáo dục  của các trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính ntrị chung của nhân dân”.

Tháng 10 năm 1951: Liên đòan giáo giới đổi thành Công đoàn giáo dục. Đại hội Công giáo dục Thanh Hóa lần thứ nhất (Ông Đái Xuân Ninh được bầu làm thư ký).

Năm 1951: Thanh Hóa tiếp tục phong trào Rèn cán chỉnh cơ, UBKCHC  tỉnh đã mời thêm các nhana sĩ trí thức (Cụ Lê Thước, ông Nguyễn Mạnh Tường...) tham gia Ban phụ trách.

Các trường tư thục nhiều trường tự giải tán vì giáo viên được trưng  tập dạy các trường quốc lập. Để thay thế các trường này, huyện và các đoàn thể mở các trường Trung học bình dân. Toàn  tỉnh ban đầu có 334 trường, cuối năm còn 28 trường hoạt động.

Thực hiện cuộc tổng kiểm tra các trường phổ thông (6/1951). Nhân dân  bắt đầu ý thức được  việc xây dựng nền giáo dục dân chủ mới nhất là về  phương diện đóng  góp vật chất. Có nơi đã bỏ hàng chục vạn đồng để xây dựng trường. Hội khuyến học Rừng Thông (thị trấn Đông Sơn) đã góp phần gần 100  vạn đồng.

Tổ chức hội nghị hiệu trưởng các trường dân lập (8/1951).  Đầu năm học 1950 – 1951 các trường dân lập mở ra ồ ạt và phức tạp. Hội nghị nhằm làm sáng rõ đường lối trường dân  lập của nhà nước vì phần lớn giáo viên đều không đáp ứng phương pháp sư phạm mới, ít chú  ý tham gia công tác kháng chiến, nền nếp còn yếu. Sau hội nghị đã tiến hành kiểm tra trường dân lập ở một số huyện, giải tán 6 trường.

Để thực hiện chủ trương phát triển mạnh cấp II ở các  tỉnh hậu phương an toàn. ty giáo dục Thanh Hóa được giao mở trại nghiệp vụ  bồi duỡng dạy các lớp 5,6 cho giáo viên cấp I có bằng Cao đẳng  tiểu học. Trại mở ở thôn  Đông Chu xã Tế Nông (Triệu Sơn ngày nay).  Tổng số học viên hơn 100 (có 40 người do giáo dục Liên khu III gửi).

Mở một lớp huấn luỵên đào tạo giáo viên  dạy 3,4. Một lớp giáo viên dạy lớp 1,2.

Các cơ sở Ấu trĩ  viễn đã chuyển  thành lớp mẫu giáo, bàn giao cho giáo dục. Ban mẫu giáo được thành lập gồm 2 người. Toàn tỉnh mở thêm 3 cơ sở mới, đưa số lớp mẫu giáo lên lớp 16 lớp với 21 cán bộ nhân viên hưởng trợ cấp của ngân sách xã. 43 cán bộ khác đang thực tập.

Chuyển hướng trong TY BDHV (bỏ hình thức vận động cưỡng bách tahy bằng vận động và giải tích, làm công tác tư tưởng cho giáo viên họ phấn khởi, yên tâm công tác; đã kịp thời theo sát các đợt phục vụ kháng chiến để dạy BDHV; Láy những chủ trương chính sách từng thời  kỳ để giảng dạy, tổ chức vận động sáng tác thơ ca hò vè về thuế nông nghiệp, tăng gia sản xuất, dân công).

Mở một lớp huấn luỵện để bổ túc trình độ văn hóa, chuyên môn cho cán  bộ miền núi dạy các lớp dự bị bình dân (50 người).

Các huyện trung châu đều mở lớp huấn luyện cho nữ cán bộ, 5 trường BTVH đã đào tạo được 270 giáo viên.

Từ 15/11 đến 15/12 – 1951: Giáo viên cấp II, III học tập chính trị chuyên môn nghiệp vụ.

Từ 17/9 đến 15/12 – 1951: Tổ chức Năm học chuyển tiếp. Trong thời gian này (cấp I học 3 tháng; cấp II – III học 2 tháng) các trường phổ thông trong tòan tỉnh phải lập chương  trình giảng dạy, phân phối thời gian để bổ túc lại chương trình đã thực hiện trong năm học 1950 – 1951. Vì đây là chương trình  CCGD lần đầu tiên áp dụng nên nhiều trường dạy chưa đủ, chưa kỹ, chưa đúng. Cuối “năm học” tổ chức thi kiểm tra. Ngày 17 – 9 là ngày khai giảng.

Ngày 2/1 – 1952: Các  trường cấp 1 tổ chức khai giảng năm học 1951 – 1952.

Ngày 7 đến 10/1/-1952: Các trường cấp II – III tổ chức khai  giảng năm học 1951 – 1952.

Tháng 4 – 1952: Hồ Chủ Tịch gửi thư cho giáo sư và sinh viên trường Dự bị đại học ở Thanh Hóa, Người nêu rõ: Học tập cần gắn với thực hành để phụng sự nhân dân. Trường cần tổ chức thi đua, thầy thi đua dạy, trò thi đua học.

20 – 8- 1952: Bộ QGGD ra Nghị định tổ chức bậc giáo dục bổ  túc trongngành BDHV. Thành lập trường Phổ thông Lao động (học viên được thoát ly công tác trong 1 thời gian ngắn) và lớp BTVH ngoài giờ cho cán bộ, nhân dân.

Năm 1952: Để cứu nguy cho đồng bằng Bắc bộ, thực dân Pháp thực hiện kế hoạch Đờ-lát  Đờ -tat-xi-nhi. Địch  tập trung đánh phá Thanh Hóa, dựa vào lực lượng phản động để phá hoại gây phiến loạn (từ năm 1950; ở các vùg phía bắc Nga Sơn, ven biển  Tĩnh Gia và miền tây). Quân dân tỉnh ta đã chiến đấu anh dũng phá vỡ hoàn toàn âm mưu của giặc.

Từ 1-5/5/1952:  Đại hội đại biểu tỉnh Đảng bộ lần  thứ IV. Nghị quyết Đại hội nêu nhiệm vụ: Xây dựng hậu phương vững mạnh, chi viện  tiền tuyến kịp thời, phát động quần chúng đấu tranh chính trị chống bọn phản động, tiếp tục giảm tô, giảm tức. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mọi phương diện.

Tháng 7,8: Tién hành hợp nhất 2 ty Giáo dục phổ thông và Bình dân học vụ theo chủ trương của Bộ giáo dục và chỉ thị của UBKCHC Liên khu IV.

Qua nhiều lần Hội nghị thống nhất giải quyết các vướng mắc tư tưởng, ổn định, chấn chỉnh xây dựng lề lối  làm việc, ngày 26/8/1952 hai ty đã chính thức thống nhất thành  Ty Giáo dục phổ thông và Bình dân học vụ.

Năm 1952: Các trường tư thục nở rộ như nấm mùa xuân (một số trường trung học bình dân mở ra trước đây tự giải tán, một số đuợc chuyển sang tư thục). Trong 6 tháng đầu năm có 72 trường, 6 tháng cuối năm lên trên 100 trường (45 trường cấp I, 57 trường cấp II, 8  trường cấp III).

Hầu hết các xã miền núi (vùng Thượng  du) có trường (trong số này có 4 trường không hoạt động được vì đói và vì thực dân Pháp càn quét, uy hiếp). Giáo dục phổ thông đẩy mạnh hoạt động chuyên môn. Hàng tháng tổ chức hội nghị Hiệu trưởng chia theo 4 khu vực để thảo luận  báo cáo chuyên môn của Ty, nêu và tháo gỡ những vướng mắc chuyên môn, nghiệp vụ. Thực hiện vở Luân  hoán (tức sổ đầu bài) ở các lớp, tăng cường cung cấp tài liệu  giáo khoa. Tham gia các hoạt động xã hội đấu trạnh chính trị ủng hộ kháng chiến (tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm, đấu tranh chống văn hóa nô dịch...).

Ngành học mẫu giáo mở thêm 7 lớp.

BDHV tiếp tục mở các cuộc thi đua (4 cuộc) với các nội dung Thi đua toàn xã biết chữ kí thi đua phá kỷ lục của xã Tam Anh để sau khi thanh toán nạn mù chữ, học các lớp sơ cấp bình dân, dự bị và BTVH). Tiếp tục mở các lớp huấn luyện cho giáo viên miền núi (153 người) miền xuôi (726 người).

1953: Cuộc kháng chiến chống Pháp của toàn dân tộc chuyển sang giai đoạn tổng phản công. Toàn tỉnh tiếp tục  tiến hành đấu tranh chính trị, phát động quần chúng chống bọn địa chủ, phong kiến, biểu dương sức mạnh của giải cấp nông dân. Triệt để giảm tô, phát động Cải cách ruộng đất đợt 1 (từ  tháng 6 – 1953) ở 6 xã thuộc huyện Nông Cống (cũ), đợt 2 (đến cuối năm 1953) ỏ 66 xã thuộc Đông Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương.

Về quân sự, tiến hành tiểu phỉ ở Quan Hóa, Lang Chánh; tiêu diệt biệt kích nhảy dù ở miền Tây. Quân dân Nga Sơn, Hà Trung chặn đứng cuộc càn quét của giặc trong chiến dịch “Hải Âu”. Tĩnh  Gia vây đánh buộc giặc  phải rút chạy trong cuộc đổ bộ lên Hải Yến.

Ngành giáo dục đã tham gia đấu tranh chính trị, phát động quần chúng 2 đợt. Đợt 1 từ tháng 4 đến tháng 8, đợt 2 tháng 9  đến tháng 12.

Tổ chức cuộc vận động cải tạo học tập của học sinh ở tất cả các  trường, các huyện, nhất là học sinh cấp II – III do tỉnh đoàn học sinh, sinh viên triển khai.

Trường phổ thông lao động tỉnh bắt đầu hoạt động.

Hội nghị các trường tư thục để giải quyết tình trạng “hỗn độn”. Đóng cửa 14 trường.

Tổ chức 13 lớp huấn luyện giáo viên phổ thông ; 14 lớp huấn luyện giáo viên bổ túc.

13 – 3- 1954: Chiến dịch Điện Biên Phủ mở màn. Thực dân Pháp tăng cường đánh phá Thanh Hóa hòng ngăn chặn hậu phương tiếp viện cho tiền tuyến.

Năm 1954: Phối hợp với chiến trường Điện Biên Phủ và các chiến  trường trong cả nước quân dân miền tây Thanh Hóa tiếp tục tiểu phỉ, quân dân Nga Sơn vẫn tiếp tục diệt địch. Ngày 6/5 đã chặn đánh 3 tiểu đoàn giặc, phối hợp bắt sống 600 tên khi chúng rút chạy; giải phóng 3 xã bị chiếm đóng. Đập tan các tổ chức phản động ở miền tây, ở thị xã Thanh Hóa, Hoằng Hóa, Nông Cống... huy động tối đa người và cho các chiến trường, đặc biệt là chiến trường Điện Biên phủ với hàng chục đợt dân công, mỗi đợt hàng chục vạn người tham gia. TRong khí thế phản công Thanh Hóa chiếm 80% trên toàn tuyến (toàn tuyến 120.000 dân công). Huy động 3.530 xe đạp thồ, 1.126 thuyền, 180 xe bò, 42 ngựa, 3 voi, 31 ô tô chuyển hàng, cung cấp cho trâu bò.

Ngành Giáo dục tổ chức 1 đoàn xe thồ đi Điện Biên Phủ. Xây dựng kế hoạch  và tổ chức thực hiện đợt vận động “Công tác giáo dục kết hợp với phát động quần chúng đấu tranh chính trị, giảm tô và CCRĐ”.

Thực hiện “chuyển hướng kinh phí” (thời gian này kinh phí chi cho giáo dục của nhà nước  phải cắt giảm để dốc sức cho tiền tuyến đánh giặc, tập trung vào CCRĐ nên ngành giáo dục có một chuyển hướng mới trpg sắp xếp trường lớp. Chủ yếu chuyển một bộ phận lớn giáo viên từ quốc lập sang dân lập để nhân dân đài thọ.

Thực hiện khóa học mùa thu cho cán bộ xã, huyện. Giáo viên làm cho họ thấy rõ chính sách kìm hãm văn hóa là một vấn đề then chốt để củng cố, xây dựng xã hội, chính quyền nhân dân. Do vậy đi học và  phát triển giáo dục là nhiệm vụ quan trọng. Kết quả đã tổ chức cho 67,25% cán bộ tham gia khóa học. Qua khóa học này củng cố bồi dưỡng và tuyển được 765 giáo viên phổ thông, 594 giáo viên dự bị, sơ cấp và lớp 1 bổ túc.

Mở trường cho học sinh miền Nam để  phục vụ tập kết theo hiệp định Giơ – ne – vơ. Ngành giáo dục đã vừa tổ chức đón tiếp, tổ chức trung chuyển vừa tổ chức ổn định cho số học sinh của 2 vùng (Nam bộ và khu V) ở miền Nam thời gian từ 30/4 đến 15/5/1955.

Tổ chức cuộc vận động nâng cao chất lượng phổ thông. Tiếp tục đi sâu  giải quyết các vướng mắc chuyên môn, soạn  giáo án mẫu cho giáo viên. Cung cấp phương diện cho giáo viên giảng dạy, tổ chức thao giảng sư phạm (hồi đó gọi là “diễn tập”, “thực tập”) mở trại khoa học tự nhiên để bồi dưỡng giáo viên. Giáo dục tư tưởng nhà trường tham gia công tác xã hội.

BDHV và BTVH bám sát các  phong trài chính trị xã hội của quần chúng để thanh toán nạn mù  chữ, vừa dạy học BDHV và BTVH vừa tuyên truyền, giáo dục tư tưởng, động viên thuyết phục học viên vượt mọi khó khăn để học tập. Đã tiến hành triển khai ở 111 xã với khoảng 170.000 người tham gia học tập mà đối tượng chính là bần cố nông, cán bộ xã mở các lớp họ ctrên công trường phục vụ chiến dịch Nông Giang. Gần 100% cán bộ, 70% dân công đã tham  gia học tập, mở 1 trường PTLĐ cho miền nui. Tổ chức huấn luyệ giáo viên vỡ lòng ở các xã đã phát độg quần chúng, 1 lớp giáo viên cho Ngọc Lạc ( 73 người). Đến cuối 1954 đã có 1011 lớp vỡ lòng, 1036 giáo viên, 26.499 học sinh.

7 – 5 – 1954: Toàn tháng ở Điện Biên Phủ.

7 – 1954: Hiệp định Giơ – ne – vơ ký kết, miền  Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền  Nam còn bị tạm chiếm. Mỹ thực hiện âm mưu can thiệp vào miềnNam. Quân dân cả nước chuyển sang những tháng năm của cuộc chiến đấu mới.

 

d�,gt0P2; yếu đã có chuyển biến tốt. Phong trào mẫu giáo phát triển mạnh. Nhiều huyện đã xóa “xã trắng” mẫu giáo, hợp nhất các lớp mẫu giáo  thành trường.

 

          - Giáo dục phổ thông, phong trào vở sạch chữ đẹp diễn ra sôi nổi, đi sâu vào phong trào “3 nền nếp” (giảng dạy, học tập và quản lý). Mở thêm 5 trường sư phạm cấp I.

          - Kiện toàn phong trào đào tạo bồi dưỡng. Các huyện xây dựng đội ngũ hướng dẫn viên cấp I, II.

-         Tổ chức bồi dưỡng  trong năm ở từng trường (thứ 5 và 15 ngày trong  1 học kỳ).

- Tổ chức  bồi dưỡng giáo viên 7 + 1  theo chương trình 7 + 2. Phát động phong trào tự học tự bồi dưỡng .

- Mở lớp bồi dưỡng  đỗi ngũ quản lý 5 tháng. Mở 15 lớp bồi dưỡng hướng dẫn viên, chuyên viên ở tỉnh. Các huyện mở 18 lớp bồi dưỡng giáo viên.

- Quyết định của Ban chấp hành Trung ương Đảng cho phép Đoàn thanh niên, đội thiếu niên được mang tên  Bác  Hồ vĩ đại.

1970: Quyết định của Hội đồng Chính phủ (số 86 CP 27-4) về một số vấn đề cấp bách trong công tác  giáo dục. Quyết đ ịnh nêu rõ:

Ngành Giáo dục xây dựng và đẹ trình một đề án cải cách một bước giáo dục phổ thông. Nhất thiết không được giảm biên chế giáo dục, tự động giải tán  thu hẹp các trường sư phạm  và bồi dưỡng giáo viên. Cần tiếp  tục d uy trì phát triển BTVH, các loại hình trường, đội ngũ giáo viên chuyên trách ở các xã. Tăng cường xây dựng đội ngũ cơ sở  vật chất, thiết  bị, quan tâm chăm sóc đời sống giáo viên.

- Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 170TTG về việc đẩy mạnh công tác nhà trẻ mẫu giáo xác đ ịnh là 1 trong những chính sách lớn của Đảng và Chính phủ.

- Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp ban hành quy định tuyển sinh vào các  trường lớp đại học và trung học chuyên nghiệp (không tuyển thẳng như các năm trước, ngoài tuyển thẳng còn tổ chức thi tuyển 1 phần).

1970: Ủy ban Nhân dân tỉnh ra Nghị quyết số 278 ĐT/UBTH (5/1970) về quy định mạng lưới thường chuyên nghiệp, công nhân, bồi dưỡng, BTVH (gồm 19 trường trung học và sơ học chuyên nghiệp, 5 trường bồi dưỡng quản  lý trong đó có trường bồi dưỡng chính trị nghiệp vụ giáo dục, trường đào tạo công nhân, 5 trường bổ túc văn hoá).

- Tiếp tục ổn định trường lớp và trang thiết bị cho nhà trường và bồi dưỡng giáo viên.

- Tỉnh có 115 xã  và 22 đơn vị hoàn thành phổ cập cấp I. Bồi dưỡng được 1000 giáo viên chuyên trách BTVH các vùng nông thôn, miền núi, công nông lâm trường, xí nghiệp.

Xã Điền Quang (Bá Thước) được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba về thành tích BTVH.

- 70 – 80% số cháu ở độ tuổi từ mẫu giáo vào cấp 1. Xây dựng được 1450 phòng học riêng, đóng 7,284 bộ bàn ghế, bồi dưỡng 2.220 giáo viên cho mẫu giáo.

- Tỷ lệ mẫu giáo bé huy động còn thấp (20%).

1971: Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số (68 – TTg ngày 6-3) về việc tăng cường lãnh đạo công tác tuyển sinh vào các trường đại học (trở lại tuyển sinh qua thi và xét trúng tuyển đại học với một số tiêu chuẩn khác).

- Bộ Giáo dục công nhận trường Sư phạm miền xuôi Thanh Hóa là trường trung học sư phạm (Quyết định số 1322 ngày 2 – 11). Bộ Đại học trung học chuyên nghiệp công nhận 3 trường trong khối nông lâm nghiệp và 6 trường sư phạm trung cấp (cấp II) là trường trung học chuyên nghiệp đề nghị UBHC tỉnh sắp xếp 6 trường sư phạm này thành 2 hoặc 3  trường (côg văn số 87/THCN ngày 17-4).

          - Ủy ban Hành chính tỉnh ban hành quy chế tổ chức, chính sách, chế độ đối với giáo viên mẫu giáo lứon ở miền xuôi và vùng thấp ở miền núi. (Văn bản số 550 VG/UBTH ngày 25 – 9) theo quy chế các trường lớp tổ chức theo nguyên tắc các hợp tác xã chủ quản, 5 lớp trên có thể thành 1 trường.

          - Quyết định thành lập trường Bổ túc văn hoá dân chính tỉnh cấp II, III (Quyết định số 640 ngày 22 tháng 7).

          - Quyết định thành lập Ban Thanh tra ngành (Quyết định số 688TC/UBTH, ngày 01 tháng 12).

          - Quyết định thành lập mới 93 trường cấp I, và cấp II.

          - Ngành Giáo dục tập trung  thực hiện chỉ thị 237 của Thủe tướng Chính phủ. Lao động sản xuất trong nhà trường là vấn đề then chốt trong giáo dục để đào tạo người lao động mới với mục đ ích: Nâng cao chất lượng đào tạo; Góp phần tạo thêm cỷa cải vật chất cho xã hội.

          26 đến 30-12-1971: Quân dân Hàm Rồng đánh thắng trận đấu trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ, bắn rơi 2 máy bay.

          1972: Giặc Mỹ ném  bom trở lại toàn miền Bắc.

          - Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị chuyển hướng công tác giáo dục trong tình hình mới (số 186 TTg ngày 28 – 6): “Phấn đấu để giữ vững và phát triển sự nghiệp giáo dục cả về quy mô và chất lượng cho phù hợp với hoàn cảnh thời chiến, góp phần chống Mỹ cứu nước, phục vụ tốt công cuộc bảo vệ và xây dựng miền Bắc, chi viện miền Nam, đồng thời tích cực  chuẩn bị điều kiện để tiến  liên sau khi chiến tranh kết thúc”.

          1972: Thanh Hóa một lần nữa trong chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của Mỹ (từ 1971) trở thành trọng điểm đánh phá. Dân quân Hà Ninh (Hà Trung) bắn rơi chiếc máy bay thứ 300 ở Thanh Hóa. Quảng Xương bắn rơi 5 máy bay. Dân quân Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, Như Xuân  bắn rơi máy bay và bắn cháy tàu chiến Mỹ. Trong năm 1972 toàn tỉnh bắn rơi, bắn cháy 88 máy bay và  23 tàu chiến Mỹ.

          - Trong đánh phá ác liệt, từ 13 tháng 4 đến cuối tháng 12, gặic Mỹ đã đánh phá 25 trường ( 7 cấp III, 11 cấo II, 7 cấp I). Điển  hình nhất là hồi 8 giờ 45 phút ngày 27-4 tại trường cấp I và cấp II Đông Yên (Đông Sơn), 3 máy bay Mỹ đã  thả 6 quả  bom vào khu vực nhà trường trong khi học sinh đang học, đang đào hầm hào. 14 học sinh, 2 cô giáo bị chết; 43 học sinh bị thương trong đó có 24 em bị thương nặng. Cô giáo Nguyễn Thị Nga, 32 tuổi bị chết ngay trên bục giảng. Hai cháu nhỏ con  cô giáo cũng bị sát hại.

          Ném bọm công trường thủy lợi – đê điều Đông Sơn (9 giờ 3 phút đến 9 giờ 7 phút ngày 14 tháng 6) trong khi  hàng ngàn thầy cô giáo Thị xã Thanh Hóa, cán bộ, giáo sinh các trường sư phạm đang tham gia lao động. Làm chết 6 thầy cô giáo  vf 24 giáo s inh,  làm bị thương gần 30  giáo viên, giáo sịnh khác.

          1972: Ủy ban  Hành chính tỉnh ra Chỉ thị (số 29VG/UBTH) về một s ố công tác giáo dục trogn tình hình mới  gồm các  nội dung chính : 1 Phòng không an toàn cho cán bộ giáo viên, học sinh. 2. Tiếp tục thi đua  Hai tốt, học tập và làm theo các điển hình tiên tiến. 3. Tăng cường tổ chức, quản lý ngành giáo dục.

          - Bổ túc văn hoá  được sự quan tâm triệt để của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể và thủ trưởng cơ quan. Hầu hết các cấp đềui có các Chỉ thị; Nghị quyết cụ thể về công tác BTVH như Nghị quyết chỉ đạo sản xuất. Nga Sơn tổ chức lãnh đạo huyện, xã đi tham quan Cẩm Bình (Hà Tĩnh)... Nông trường Phúc  Do, Vân Du, Sao Vàng, lâm trường Như Xuân, Lang Chánh, nhà máy điện Hàm Rồng, Cơrôm mit Cổ Định, các Ty Bưu điện, Tài chính đều đầu tư mạnh cho BTVH... Nhiều huyện 100% số xã có phong trài BTVH sôi nổi. Có nhiều điển hình BTVH từ miền núi, từ  nông thôn đến cơ quan xí nghiệp, thành thị. Các trường BTVH tập trung ổn định, hoạt động tốt. H ình thành màng lưới chỉ đạo điểm của tỉnh huyện. Đội ngũ làm công tác BTVH tăng về số lượng với các cán bộ giáo viên chuyên trách và kiêm chức. Các xã được tăng cường trưởng ban BTVH xã.

          - Vỡ lòng mẫu giáo chú ý khâu xây dựng kế hoạch theo “mẫu” của chuyện Thiệu Hóa (cũ) đối với cấp huyện. “Mẫu” của xã Hoằng Trinh (Hoằng Hóa) đối với cấp trường. Cắm các điểm chỉ đạo cấp tỉnh và cấp huyện theo gương điển hình tiên tiến Cẩm Bình, Hoằng Lộc. Tập trung phát triển mẫu giáo bé, phổ cập mẫu giáo lớn. Nâng cao chất lượng dạy – học. Lấy chất lượng dạy học mãu giáo lớn làm trung tâm. Tổ chức hội nghị chuyên đề 2 môn Học  tính và Trò chơi từ tỉnh đến huyện, trường (4500 người tham gia). Phát hành  7000 chuyên san mẫu giáo. Nhiều nơi tổ chức  hội thi tài của giáo viên. Tổ chức cho giáo viên đi đào tạo ở trường sư phạm mẫu giáo tỉnh.

          - Số học sinh phổ thông bỏ học nhiều (1970 – 1971: 11.334, 1971-1972: 30.044). Thực hiện kế hoạch nhà nước ở 3 cấp theo các chỉ số đều thiếu hụt từ 1 đến gần 10%. Tuy nhiên phong trào thi đua Hai tốt vẫn được duy trì liên tục. Các trường tiên tiến xuất sắc vẫn giữ vững danh hiệu của mình. Ngành phổ thông có 87 đơn vị trong 120 đơn vị tiên tiến toàn ngành.

          1973: Đế quốc Mỹ  buộc phải ký hiệp định Pari chấm dứt chiến tranh phá hoại miền  Bắc. Cùng với miền Bắc, Thanh Hóa  tiếp tục chi viện cho chiến trường miền Nam đánh thắng  hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược  vừa khắc  phục  hậu quả chiến tranh, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          - Lụt bão lớn ở Thanh Hóa.

          - Ủy ban  Hành chính Tỉnh đề ra nhiệm vụ “chuyển hướng sang thời bình một cách có kế hoạch, bảo đảm nhanh chóng đi vào ổn đ ịnh và được cải tiến một bước”.

          - Ngành Giáo dục tổ chức Đại hội mừng công  thắng  Mỹ (tháng 4-1973) tiếp tục  phong trào thi đua Hai tốt.

          - Khôi phục  nhanh chóng trường lớp: di chuyển địa điểm trường từ nơi sơ tán về địa điểm tập trung (trong ½ đến 1 tháng). Nhìn chung khi trở về đã đủ phòng học.

          - Một số huyện và đơn  vị đạt tỷ lệ phổ cập vỡ lòng từ 95 – 100% (Nga Sơn, Vĩnh Lộc, Thọ  Xuân, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Nông trường Sao Vàng, Vân Du, Thống nhất, Sông Âm).

          - Tổ chức chiến dịch thanh toán nạn mù chữ. Tuyển 300 giáo sinh tốt nghiệp sư phạm 7 + 3 làm lực lượng nòng cốt.

          - Trường BTVH  vừa học vừa làm xã Hoằng Trinh lá cờ đầu của các trường BTVH vừa học vừa làm toàn tỉnh là điển hình của mô hình mới “học kết hợp với hành, vừa học vừa  lao động sản xuất”. Trường có từ lớp 4 đến lớp 8, chia giáo viên, học sinh thành 3 đội sản xuất, bảo đảm 120 công trong 1 vụ lao động.

          1974: Thủ tướng Chính phủ (Quyết định số 100TTg, Chỉ thị số 199 – TTg), Bộ Giáo dục (Chỉ thị 2448, Quyết định số 506/QĐ) thành lập 2 trường học sinh miềnNam đặt tại Hà Trung (trường số 16 và 17).

          - Hội đồng chính phủ quyết định (số 291 – CP) về bồi dưỡng cán bộ, giáo viên (hàng năm đảm bảo 5 – 10% cán  bộ giáo viên đi bồi dưỡng tập trung).

          - Thông tư liên bộ Lao động – Giáo dục về giáo dục ý thức ngành nghề và hướng dẫn  học sinh phổ thông đi học nghề.

          1974: Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ thị về tăng cường công tác  giáo dục (chỉ thị 27 – VG/UBTH) Chỉ thị về xây dựng trường sở thuộc Ngành Giáo dục (số 37 VG/UBTH).

          - Giáo dục Thanh Hóa  tăng cường cho giáo dục miền núi. Tăng cường xây dựng cơ sở  vật chất. Tổng số lớp vỡ lòng, mẫu giáo, tăng 4,6%, cấp II tăng 10,1% cấp III tăng 24,4%. Số học sinh từ vỡ lòng đến cấp III tăng 4,6% so với 1973.

          1975: Chiến trường Miền Nam đồng loạt tiến công. Tháng 3, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu với tinh thần thần tốc. Ngày 30-4 giải phóng Sài Gòn. Ngày 1-5, miền Nam hòan toàn giải phóng, Từ đây giang sơn thu về một mối, đất nước thống nhất, cả nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội.

          - Bộ Chính trị ra Nghị quyết về chuẩn  bị cải cách giáo dục.

          1975: Thanh Hóa huy động lực lượng chi viện  thần tốc cho miền Nam tòan thắng. (Từ cuối 1974). Hoàn thành vượt mức 20% chi tiêu giao quân cả năm ngày từ giữa tháng 3.

          Đại hội đ ại biểu tỉnh đảng bộ Thanh Hóa lần thứ VII (từ 19 đến 28 – 5. Về Giáo dục, Nghị quyết Đại hội nêu rõ:

          - Tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục một cách vững chắc và cân đối giữa các ngành học, đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Phát triển mạnh mẫu giáo, nhanh chóng phổ cập vỡ lòng đúng độ tuổi, đảm bảo cho tất cả học sinh học hết cấp I được vào cấp II; mở rộng cấp III một cách vững chắc. Đẩy mạnh bổ túc văn hóa, mở rộng hinh thức vừa học  vừa làm, thanh toán  nạn mù chữ nhất là ở vùng núi, vùng biển.

          Về giáo dục chuyên nghiệp, trogn 2 năm 1975 = 1976 cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ trung học về quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ cho các hợp tác xã, công nhân kỹ thuật cho cả quốc doanh và hợp tác xã. Chú ý đào tạo cán bộ người dân tộc, cán  bộ nữ.

          Tiếp tục chỉ đạo phong trào thi đua “2 tốt”, xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy chế dạy học. Chú trọng rèn luyện, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên về mọi mặt, nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường sư phạm theo hướng dẫn tiêu chuẩn hóa đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong cải cách giáo dục. Tăng phương diện cho việc dạy và học, đảm baỏ năm 1976 cí đủ trường và bàn ghế.

          5-8-1975: Thường vụ tỉnh ủy bàn chuyên đề về công tác giáo dục. Đảng đoàn ngành giáo dục Thanh Hóa báo cáo trước Ban thường vụ Tỉnh ủy “Tình hình hiện nay và nhiệm vụ của công tác giáo dục trong thời gian tới”.

          - Tỉnh ủy ra chỉ thị về công tác giáo dục  trong thời gian tới (số 06 CT/TU ngày 19 tháng 8 năm 1975) yêu cầu: mỗi xã  ít nhất có 1 lớp mẫu giáo; phổ cập  vỡ lòng đúng độ tuổi vào năm 1975 – 1976: Mở các lớp 1 đặc biệt (quá độ tuổi), phổ cập cấp I đúng độ tuổi ở miền xuôi vào năm học 1980-1981, các vùng khác  vào năm học 1981 – 1982. Phát triển mạnh trường vừa học vừa làm (mỗi xã 1 trường), đưa quy mô  bổ túc công nông lên... Kiên quyết thanh tóan nạn mù chữ... Phấn đấu nưm 1976 toàn tỉnh có khoảng 100.000 học viên BTVH.

          Cần hướng  mọi cố gắng vào vịệc nâng cao chất lượng toàn diện. Thực hiện lời dạy của Hồ Chủ Tch: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”. Chấn chỉnh công tác tổ chức và cải tiến công tác quản lý của ngành... coi đây là khâu mấu chốt cần tập trung  giải quyết để tạo nên những chuyển biến trong công tác giáo dục. Tăng  cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền, tăng cường trách nhiệm của các ngành và đòan thể đối với công tác giáo dục.

          - Hội nghị Sơ kết phong trào thi đua Hai tốt, học tập và làm theo các  điển hình  tiên tiến (1971 – 1975). Mạng lưới các trường tiên tiến mỗi năm đều được mở rộng. Năm học 1971 –1972 có 129 đơn vị, năm học 1974 – 1975 có 537 đơn vị. Tuyên dương các điển h ình tiên tiến xuất sắc:

          Trường cấp I Phù Nhi (Quan Hóa) “Điển hình đắc sắc của sự thực hiện phương châm phát triển giáo dục miền núi”. Hoằng Trịn xã có phogn trào giáo dục toàn diện. Đăc biệt Trường câp I Hải Nhân 10 năm giữ vững ngọn cờ đầu trong giáo dục phổ thông cấp I toàn miền Bắc.

          Năm 1976: Đaị hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng công sản ViệtNam. Về giáo dục, Nghị quyết đại hội nêu rõ các nhiệm vụ, mục tiêu chính:

          - Tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước làm cho hệ thống giáo dục quốc dân  gắn chặt hơn nữa với sự ng hiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

          - Phát triển phổ th ông: thanh toán nạn mù chữ, tăng cường công tác bổ túc văn hoá, phát triển và nâng cao chất lượng mẫu giáo, mở rộng hoàn chỉnh mạng lưới GDCN.

          - Đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt”

          - Cải tiến bộ máy quản lý và công tác quản lý từ cấp Bộ đến trường học.

 

File đính kèm:

in tem bảo hành- thành lập văn phòng đại diện